Thứ Tư, 14 tháng 3, 2012

Không bật tín hiệu xi nhan, bị xử phạt bao nhiêu tiền?

Không bật tín hiệu xi nhan, bị xử phạt bao nhiêu tiền?
(Dân trí) - Tôi điều khiển xe máy chuyển làn đường nhưng không mở tín hiệu xi nhan. Xin hỏi trường hợp này bị xử phạt bao nhiêu? Xin cảm ơn quý báo! (Nguyễn Trung, Email: trung.nvb@gmail.com)
 >>  Xử phạt vi phạm hành chính khi không có giấy phép lái xe?
 >>  Xử phạt đi xe môtô không có gương chiếu hậu, không có bảo hiểm xe?
CSGT đang làm nhiệm vụ tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh (Ảnh: Vũ Văn Tiến)
Trả lời:
Tại điểm a khoản 2 Điều 9 Nghị định 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, nêu rõ: “Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây: Chuyển làn đường không đúng nơi được phép hoặc không có tín hiệu báo trước...
Như vậy, bạn điều khiển xe máy chuyển làn đường không có đèn tín hiệu báo trước thì sẽ bị xử phạt theo quy định nêu trên.
Luật sư Ngô Thị Lựu
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166

Thứ Ba, 13 tháng 3, 2012

Luật sư Vũ Thị Hiên

Ly hôn có bị mất quyền làm cha không?
(Dân trí) - Tôi ly hôn được hơn 1 tháng. Khi đó vợ tôi mang bầu được 8 tháng, nay vợ tôi sinh bé, cô ấy muốn khai sinh cho cháu bé không có tên tôi. Tôi có bị mất quyền làm cha không? (Trần Hoàng Việt, Email: Vietth@gmail.com).
Tại Khoản 2 Điều 21 Nghị định số 70/2001/ND – CP ngày 03/10/2001 quy định như sau: “Con sinh ra trong vòng 300 ngày, kể từ ngày người chồng chết hoặc kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án xử cho vợ chồng ly hôn có hiệu lực pháp luật, thì được xác định là con chung của hai người”.
Như vậy đối chiếu quy định nêu trên, đứa trẻ sinh ra sau khi ly hôn đối với trường hợp của bạn được xác định là con chung vợ chồng. Việc vợ bạn không cho bạn đứng tên khai sinh là cha của đứa trẻ là không đúng quy định của pháp luật. Trường hợp này bạn nên trao đổi trực tiếp phân tích cho mẹ đứa trẻ hiểu, nếu sau khi mẹ của đứa trẻ hiểu và hợp tác thì hai bạn liên hệ tới Ủy ban nơi mẹ đứa trẻ có hộ khẩu để làm thủ tục đăng ký khai sinh cho bé.   Trường hợp, nếu mẹ đứa trẻ không muốn để bạn đứng tên trên giấy khai sinh thì bạn có quyền nộp đơn khởi kiện tới Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu nhận cha cho con. Khi bản án của Tòa có hiệu lực pháp luật thì bạn có quyền yêu cầu mẹ đứa trẻ đi làm thủ tục khai sinh cho bé và bạn sẽ đứng tên cha đứa trẻ trên giấy khai sinh.   Như vậy, việc ly hôn không làm chấm dứt hay làm bạn mất quyền làm cha.  
Luật sư Vũ Thị Hiên
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166

Thứ Tư, 7 tháng 3, 2012

Luật sư Vũ Thị Hiên

Luật sư Vũ Thị Hiên tư vấn luật trên báo Dân Trí: "Làm gì khi chồng không chịu nhận con"
(Dân Trí) – Chồng tôi muốn ly hôn vì nghi ngờ con chúng tôi không phải của anh. Anh cho rằng thời kỳ tôi mang thai anh đi công tác nhiều nên khả năng có bé là không thể. Tôi rất muốn chứng minh nhưng không biết phải làm như thế nào? Xin tư vấn giúp tôi. (Trần Bảo Quyên; Email:hoahoctro_1281@gmail.com).
Tại Khoản 1 Điều 63 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng”.
Mặt khác, theo quy định tại mục 5 Nghị quyết số 02/2000/NQ –HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Theo quy định tại khoản 1 Điều 63, thì về nguyên tắc trong các trường hợp sau đây phải coi là con chung của vợ chồng:
- Con sinh ra sau khi đã tổ chức đăng ký kết hôn cho đến trước khi chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc của cả hai vợ chồng;
- Con sinh ra sau khi chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng, nhưng người vợ đã có thai trong thời kỳ hôn nhân (trong thời kỳ từ khi đã tổ chức đăng ký kết hôn cho đến trước khi chấm dứt quan hệ hôn nhân).
- Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn (ngày tổ chức đăng ký kết hôn) nhưng được cả vợ và chồng thừa nhận.
Đối chiếu quy định nêu trên thì bạn sinh em bé trong thời kỳ hôn nhân do vậy em bé được xác định là con chung của vợ chồng bạn.Trường hợp, nếu chồng bạn không nhận hoặc nghi ngờ thì bạn nên cùng chồng đưa cháu đi giám định gen.
Mặt khác, nếu vì sự nghi ngờ này mà chồng bạn muốn ly hôn thì bạn có thể làm đơn gửi tới Tòa có thẩm quyền để yêu cầu bác đơn vì xác định căn cứ ly hôn là không có. Nếu chồng bạn không nhận con thì anh ấy phải có chứng cứ để chứng minh đứa trẻ đó không phải là con của anh ấy. Tốt nhất, theo chúng tôi bạn nên cùng chồng bạn đưa cháu đi giám định gen. Đây là cách vừa đảm bảo tính khách quan, bí mật và danh dự cho cả hai bạn.
Luật sư Vũ Thị Hiên
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình – Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166

Thứ Tư, 22 tháng 2, 2012

Luật sư Vũ Thị Hiên tư vấn luật trên báo Dân Trí: "Thời hạn bị tạm giữ là bao lâu?"

Luật sư Vũ Thị Hiên tư vấn luật trên báo Dân Trí: "Thời hạn bị tạm giữ là bao lâu?"
(Dân Trí) - Mẹ tôi bị nghi ngờ mua bức tượng đồng của kẻ trộm. Nửa đêm, Công an lục soát nhà tôi, đưa cả nhà về trụ sở Công an huyện. Sau khi lấy lời khai, hai anh em tôi được về, còn mẹ tôi bị tạm giữ. Thời hạn bị tạm giữ là bao lâu? Hai anh em tôi cứ ngỡ sự việc đơn giản, rằng họ chỉ tạm giữ mẹ hôm đó để điều tra hôm sau sẽ được thả về. Nhưng, chúng tôi đợi 4 hôm không thấy tin tức gì. Tôi đã nhiều lần đến hỏi thăm nhưng cũng chỉ đứng ở cổng. Tôi không rõ thủ tục bắt giữ người để điều tra như thế nào. Nhưng với hành vi lục soát nhà, đánh trẻ chưa đủ 18 tuổi và tạm giữ mẹ tôi 10 ngày của công an huyện A như vậy là có đúng pháp luật không? (Hoàng Đinh Dương; Email: troyktd@gmail.com).
Theo bạn trình bày thì mẹ bạn bị công an bắt vào thời điểm là 23h và không có lệnh bắt.  Tại Khoản 3 Điều 80 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS) quy định: “Không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp bắt khẩn cấp, phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã quy định tại Điều 81 và 82 của Bộ luật này”
Tại Khoản 1 Điều 81 BLTTHS quy định: “1. Trong những trường hợp sau đây thì được bắt khẩn cấp:  Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; Khi có người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;  Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ”.
Tại Khoản 1 Điều 82 BLTTHS quy đinh: “Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt, cũng như người đã bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Uỷ ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản và giải ngay người bị bắt đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền”
Theo bạn trình bày thì tại thời điểm bắt mẹ bạn, tại nhà trọ nơi mẹ bạn và bạn ở không có tang vật vụ án – bức tượng đồng. Việc bắt mẹ bạn chỉ căn cứ vào lời khai của một đứa trẻ chưa đủ 18 tuổi. Vì bạn không cung cấp cụ thể tình tiết vụ án nên chúng tôi không thể kết luận được việc bắt giữ mẹ bạn là đúng hay sai. Tuy nhiên, nếu tại thời điểm khám xét nhà không có bức tượng, mẹ bạn cũng không hề mua bức tượng đó thì việc bắt người trong trường hợp này là không có căn cứ. Và trình tự thủ tục cũng trái quy định. Giả định, nếu những gì chúng tôi trình bày nêu trên là đúng sự thật thì mẹ bạn không thuộc trường hợp theo quy định tại Điều 81, 82 BLTTHS thì không thể bắt mẹ bạn vào ban đêm được. Tại khoản 1 Điều 83 BLTTHS quy định: “Sau khi bắt hoặc nhận người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, Cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 24 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt”.
Rõ ràng, trong trường hợp này không có lệnh bắt và cũng không có quyết định tạm giữ. Việc Cơ quan công an tiến hành bắt giữ mẹ bạn không theo đúng trình tự thủ tục. Mặt khác, tại Điều 87 BLTTHS quy định: “1. Thời hạn tạm giữ không được quá ba ngày, kể từ khi Cơ quan điều tra nhận người bị bắt;  2. Trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ, nhưng không quá ba ngày. Trong trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá ba ngày. Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn; trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị gia hạn và tài liệu liên quan đến việc gia hạn tạm giữ, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn”. Theo quy định này thì thời gian tạm giữ nhiều nhất cũng chỉ là 9 ngày. Việc bắt giữ mẹ bạn 10 ngày là trái quy định.
Theo bạn trình bày, thì khoảng 23h đêm công an có tới lục soát nhà và bắt mẹ bạn, thủ tục khám xét nhà cũng không có lệnh và lập biên bản. Theo quy định tại Điều 143 BLTTHS quy định: “….2. Khi khám chỗ ở, địa điểm phải có mặt người chủ hoặc người đã thành niên trong gia đình họ, có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người láng giềng chứng kiến; trong trường hợp đương sự và người trong gia đình họ cố tình vắng mặt, bỏ trốn hoặc đi vắng lâu ngày mà việc khám xét không thể trì hoãn thì phải có đại diện chính quyền và hai người láng giềng chứng kiến. 3. Không được khám chỗ ở vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn, nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.4. Khi khám chỗ làm việc phải có đại diện của cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng kiến.5. Khi tiến hành khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm những người có mặt không được tự ý rời khỏi nơi đang bị khám, không được liên hệ, trao đổi với nhau hoặc với những người khác cho đến khi khám xong”.  Như vậy, việc khám xét nhà trọ là không đúng quy định.
Vì bạn không cung cấp cụ thể đứa trẻ kia chính xác bao nhiêu tuổi, nhưng theo cách bạn trình bày thì đứa trẻ này trên 16 tuổi, do vậy việc lấy lời khai của đứa trẻ này không cần người đại diện tham gia (khoản 5 Điều 135 BLTTHS). Việc mẹ bạn được thả về cũng phải có lệnh và biên bản cụ thể, do vậy thủ tục thả tự do cho mẹ bạn cũng không đúng trình tự.
Trên cơ sở phân tích nêu trên, đối chiếu vào trường hợp cụ thể của mẹ bạn - bạn có thể biết việc bắt tạm giữ mẹ là đúng hay sai quy định của pháp luật. Bạn có thể tham khảo các quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Trường hợp, nếu việc bắt giữ người trái quy định bạn có quyền khiếu nại và yêu cầu bồi thường oan sai.
Luật sư Vũ Thị Hiên
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166

Thứ Hai, 20 tháng 2, 2012

Luật sư Trần Thị Thúy Hằng tư vấn luật trên báo Dân Trí: "Tôi phải làm thủ tục gì để sang tên chính chủ ngôi nhà? "

Luật sư Trần Thị Thúy Hằng tư vấn luật trên báo Dân Trí: "Tôi phải làm thủ tục gì để sang tên chính chủ ngôi nhà? "
(Dân Trí) - Bố mẹ tôi chia tay nhau, năm 1995 bố tôi lập gia đình. Năm 2008, tôi mua lại mảnh đất của bố tôi. Đến khi làm thủ tục sang tên sổ đỏ, vợ hai của bố tôi không ký giấy tờ. Tôi phải làm thủ tục gì để sang tên chính chủ ngôi nhà? (Gia Minh, Email: giaminh123@gmail.com).
Theo dữ kiện từ câu hỏi của bạn chúng tôi hiểu mảnh đất mà bạn đang muốn mua lại là mảnh đất của bố bạn được Tòa án chia cho năm 1994 khi ly hôn với mẹ bạn. Năm 1995 bố bạn kết hôn với người khác, theo quy định tại  khoản 1điều 27 Luật Hôn nhân gia đình thì tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung vợ chồng, cụ thể: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận”.
Như vậy mảnh đất này hình thành trong thời kỳ hôn nhân với mẹ bạn, sau khi ly hôn đã được chia cho bố bạn và sau đó bố bạn mới kết hôn với người khác, do đó đây được xác định là tài sản riêng của bố bạn (Tài sản hình thành trước thời kỳ hôn nhân với người vợ thứ hai).
Tuy nhiên bạn không nói rõ năm 2008 khi tách sổ đỏ (theo dữ kiện bạn nêu chúng tôi hiểu là cấp Giấy chứng nhận (sổ đỏ) riêng cho phần đất của mỗi người được chia theo bản án) thì bố bạn làm thủ tục xin cấp sổ như thế nào? Trên Giấy chứng nhận ghi tên một mình bố bạn hay cả bố bạn và người vợ sau.
- Trường hợp nếu Sổ đỏ đứng tên cả hai người thì căn cứ theo quy định tại khoản 1 điều 27 nêu trên thì có nghĩa là bố bạn đã nhập khối tài sản riêng thành tài sản chung của bố bạn và người vợ thứ hai. Như vậy mảnh đất trở thành tài sản chung vợ chồng do đó khi định đoạt (mua bán, chuyển nhượng, tặng cho…) phải được sự đồng ý của cả bố bạn và người vợ sau.
- Trường hợp bố bạn xin cấp Sổ đỏ cho riêng 1 mình căn cứ theo quyết định của Bản án năm 1994 và Cơ quan có thẩm quyền đã cấp sổ đứng tên 1 mình bố bạn: Mặc dù năm 2008 (trong thời kỳ hôn nhân với người vợ sau) bố bạn mới được cấp sổ đỏ nhưng mảnh đất này đã có trước thời kỳ hôn nhân (với người vợ sau) mà bố bạn không có thỏa thuận nhập vào tài sản chung vợ chồng, không có văn bản thỏa thuận cho người vợ sau là đồng sở hữu thì vẫn được xác định là tài sản riêng. Do vậy bố bạn có quyền tự định đoạt mà không cần phải có sự đồng ý của người vợ.
Tuy nhiên khi đi làm thủ tục chuyển nhượng, mua bán… vì trên sổ đỏ ghi nhận năm cấp là 2008 (là trong thời kỳ hôn nhân) và không ghi thời điểm hình thành tài sản cũng như nguồn gốc nên bên thứ ba  (như cơ quan công chứng…) không thể biết và thông thường các cơ quan sẽ căn cứ vào ngày cấp Giấy chứng nhận để xác định tài sản có phải của vợ chồng hay không. Do đó các Cơ quan công chứng không thể làm thủ tục cho bố bạn tự định đoạt một mình được.
Vì vậy để bố bạn có thể làm thủ tục chuyển nhượng mảnh đất mà không cần có ý kiến của người vợ sau (trường hợp không nhập thành tài sản chung vợ chồng), bố bạn có thể xuất trình kèm theo Bản án, Quyết định ly hôn có sự phân chia mảnh đất trên cho bố bạn năm 1994. Hoặc bạn có thể liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền đã cấp Giấy chứng nhận để xác định về nguồn gốc mảnh đất và thời điểm hình thành tài sản này của bố bạn để chứng minh đây là tài sản riêng, hình thành trước thời kỳ hôn nhân và không nhập thành tài sản chung vợ chồng.
Luật sư Trần Thị Thúy Hằng
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2012

Luật sư Vũ Hải Lý tư vấn luật trên báo Dân Trí: "Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu chia thừa kế "
(Dân trí) - Năm 2007, bố tôi mất không để lại di chúc, bố mẹ tôi có hai người con, chúng tôi đều đã lập gia đình và sống cùng với mẹ. Do mâu thuẫn, mẹ tôi đuổi vợ chồng tôi ra khỏi nhà. Nếu muốn ở lại căn nhà trên, tôi phải làm gì? Xin cảm ơn! (Lương Mạnh Giang, Email: giadinham2009@gmail.com).
Vì thông tin của ông chưa đầy đủ nên chúng tôi không biết trước khi chết bố ông có để lại di chúc hay không? Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ai? Trong trường hợp bố ông có di chúc thì tài sản của bố ông sẽ được định đoạt theo di chúc. Trong trường hợp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình thì diện tích đó là tài sản chung của hộ gia đình, mỗi thành viên đều có quyền ngang nhau khi sở hữu, định đoạt đối với khối tài sản.
Nếu năm 2007, bố ông mất không để lại di chúc, tài sản này là tài sản chung vợ chồng thì phần tài sản của bố ông trong khối tài sản chung sẽ được chia theo quy định của pháp luật.
Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật được quy định tại điều 645 Bộ luật dân sự năm 2005, cụ thể như sau: “Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế".
Như vậy, thời hiệu yêu cầu chia thừa kế của bố ông vẫn còn và mẹ ông có quyền khởi kiện để yêu cầu chia thừa kế.
Theo điểm a khoản 1 Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”.
Trong trường hợp nhà đất này là tài sản chung của bố mẹ ông thì việc tòa án xác định ½ giá trị nhà đất là của bố ông, ½ giá trị nhà đất là của mẹ ông, phần di sản của bố ông được chia đều làm 3 phần bằng nhau gồm mẹ và hai anh em trai của ông (với điều kiện ông bà nội của ông đã mất trước khi bố ông mất, bố ông không có cha mẹ nuôi, con nuôi, con riêng nào khác) là đúng. Nguyên tắc chia thừa kế là chia bằng hiện vật nhưng vì diện tích ngôi nhà quá nhỏ (16,7m2) nên nếu chia bằng hiện vật sẽ giảm giá trị căn nhà và ảnh hưởng tới những người khác nên việc tòa án giao cho mẹ ông quản lý sử dụng và thanh toán hơn 400 triệu đồng cho ông, để ông có quyền lưu cư 6 tháng là có căn cứ.
Luật sư Vũ Hải Lý
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166

Thứ Hai, 13 tháng 2, 2012

Luật sư Vũ Hải Lý tư vấn luật trên báo Dân Trí: "Chia tay khi người yêu mang bầu có phạm luật không?"

(Dân trí) - Tôi năm nay 20 tuổi, người yêu tôi 18 tuổi. Chúng tôi mới yêu nhau nhưng đã có quan hệ tình cảm “sâu sắc”. Hiện cô ấy đang có bầu, nếu tôi muốn chia tay vào lúc này có phạm tội không? (Khuất Quang Dương, Email: quangduong11111991@yahoo.com).
Vì quan hệ tình cảm của các bạn là tự nguyện, bạn gái của bạn cũng đã đủ 16 tuổi nên bạn không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.
Hiện nay, nếu bạn gái bạn vẫn giữ thai và sinh đứa trẻ thì sau này khi đã làm thủ tục khai sinh cho trẻ, bạn gái bạn có quyền khởi kiện đến Tòa án Nhân dân nơi đứa trẻ cư trú để yêu cầu Tòa án xác nhận bạn là cha đứa trẻ. Theo khoản 4 điều 27 Bộ luật tố tụng Dân sự 2004 được sửa đổi, bổ sung năm 2011 thì tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.
Căn cứ quyết định của bản án có hiệu lực của Tòa án, bạn phải có trách nhiệm cấp dưỡng đối với người con. Việc đăng ký kết hôn là tự nguyện, không có cá nhân, tổ chức nào có thể ép buộc bạn phải tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn với bạn gái bạn nhưng bạn phải có trách nhiệm đối với người con. Nếu hai bạn đều công nhận là con của mình, không có tranh chấp, không muốn tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn thì hai bạn có thể ra Ủy ban Nhân dân xã, phường nơi bạn gái bạn cư trú để làm thủ tục công nhận cha cho con. Căn cứ quyết định công nhận cha cho con Ủy ban Nhân dân sẽ ghi tên bạn trong Giấy khai sinh của người con.
Luật sư Vũ Hải Lý
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166