Thứ Bảy, 28 tháng 4, 2012

Thủ tục chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty TNHH?

Tư vấn pháp luật:
(Dân trí) – Tôi đang có một doanh nghiệp tư nhân, nay tôi muốn chuyển đổi doanh nghiệp này sang loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn. Vậy tôi cần làm những thủ tục gì? (Đào Công Thảo, Email: dcthao@gmail.com).

Ảnh minh họa
Trả lời:
1. Doanh nghiệp tư nhân có thể chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn theo quyết định của chủ doanh nghiệp tư nhân nếu đủ các điều kiện sau đây:
a) Có đủ các điều kiện quy định tại Điều 24 của Luật Doanh nghiệp;
b) Chủ doanh nghiệp tư nhân phải là chủ sở hữu công ty (đối với trường hợp chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân) hoặc thành viên (đối với trường hợp chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên);
c) Chủ doanh nghiệp tư nhân cam kết bằng văn bản chịu trách nhiệm cá nhân bằng toàn bộ tài sản của mình đối với tất cả các khoản nợ chưa thanh toán của doanh nghiệp tư nhân và cam kết thanh toán đủ số nợ khi đến hạn;
d) Chủ doanh nghiệp tư nhân có thỏa thuận bằng văn bản với các bên của hợp đồng chưa thanh lý về việc công ty trách nhiệm hữu hạn được chuyển đổi tiếp nhận và thực hiện các hợp đồng đó;
đ) Chủ doanh nghiệp tư nhân cam kết bằng văn bản hoặc có thỏa thuận bằng văn bản với các thành viên góp vốn khác về việc tiếp nhận và sử dụng lao động hiện có của doanh nghiệp tư nhân.
Hồ sơ đăng ký chuyển đổi theo quy định tại khoản 3, Điều 23 Nghị định 43/2010/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp như sau:
a) Giấy đề nghị chuyển đổi doanh nghiệp;
b) Điều lệ công ty;
c) Danh sách chủ nợ và số nợ chưa thanh toán, gồm cả nợ thuế, thời hạn thanh toán; danh sách người lao động hiện có; danh sách các hợp đồng chưa thanh lý;
d) Danh sách thành viên theo quy định tại Điều 23 của Luật Doanh nghiệp đối với trường hợp chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân của các thành viên công ty đối với trường hợp thành viên là cá nhân và bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đối với trường hợp thành viên công ty là tổ chức;
đ) Văn bản cam kết của chủ doanh nghiệp tư nhân về việc chịu trách nhiệm cá nhân bằng toàn bộ tài sản của mình đối với tất cả các khoản nợ chưa thanh toán của doanh nghiệp tư nhân và cam kết thanh toán đủ số nợ khi đến hạn;
e) Văn bản thỏa thuận với các bên của hợp đồng chưa thanh lý về việc công ty trách nhiệm hữu hạn được chuyển đổi tiếp nhận và thực hiện các hợp đồng đó;
g) Văn bản cam kết của chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thỏa thuận giữa chủ doanh nghiệp tư nhân và các thành viên góp vốn khác về việc tiếp nhận và sử dụng lao động hiện có của doanh nghiệp tư nhân.
2. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ, cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nếu có đủ các điều kiện quy định ở trên.
Khi nhận Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của công ty chuyển đổi, doanh nghiệp phải nộp lại bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy tờ tương đương khác của doanh nghiệp được chuyển đổi.
Luật sư Đinh Vũ Hòa
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166
Ban Bạn đọc

Thứ Hai, 16 tháng 4, 2012

Phân biệt tài sản chung và riêng của vợ, chồng?

Tư vấn pháp luật:
(Dân trí) - Anh trai tôi sau khi kết hôn thì mua một căn nhà để ở, trong đó phần lớn tiền mua nhà là của bố mẹ tôi cho. Vậy, khi ly hôn thì anh tôi có phải chia đôi căn nhà này không? (Lê Văn An, email: Levanan2688@gmail.com).
Ảnh minh họa
Trả lời:
Khi ly hôn, việc chia tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó;  Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi.
Tại khoản 1 Điều 27 LHNGĐ quy định như sau: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung”.
Căn nhà được mua trong thời kì hôn nhân. Phần lớn tiền mua nhà là bố mẹ cho nhưng tài sản tặng cho, về nguyên tắc, nếu không được tuyên bố rõ là tặng cho riêng, thì sẽ là tài sản chung. Việc tuyên bố là tặng cho riêng phải xảy ra ngay lúc tặng cho tài sản, cụ thể là trong hợp đồng tặng cho giữa bố mẹ người chồng và người chồng, căn cứ vào đó, giấy tờ pháp lý sẽ chỉ đứng tên riêng của người chồng mà thôi. Trong trường hợp này tài sản đã đứng tên 2 vợ chồng, có nghĩa là khi tặng cho đã không tuyên bố là tặng cho riêng, vì vậy, số tiền cho mua nhà được coi là tài sản chung cho nên căn nhà là tài sản chung của 2 vợ chồng.
Việc chia tài sản (căn nhà) được căn cứ Theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 95 LHNGD 2000: “Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập”. Trong trường hợp này nếu như anh bạn có đủ căn cứ chứng minh được phần đóng góp cao hơn thì anh bạn sẽ được tòa chia cho phần hơn so với người vợ.
Luật sư Ngô Thị Lựu
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Email: Info@luatdaiviet.vn
Ban Bạn đọc 

Thứ Ba, 10 tháng 4, 2012

Làm mất danh bạ điện thoại của khách hàng, có phải bồi thường không?

Tư vấn pháp luật:
(Dân trí) - Trong trường nhân viên kinh doanh của Công ty A sửa chữa máy điện thoại làm mất toàn bộ danh bạ trên máy của khách hàng thì giải quyết thế nào?
Trước đó, khi sửa chữa, cài đặt máy, nhân viên Công ty A không thông báo cho tôi về việc có thể làm mất danh bạ này. (Đỗ Huy Bình, email: dohuybinhvp@gmail.com).

Ảnh minh họa
Trả lời:
Theo những thông tin bạn cung cấp chúng tôi hiểu rằng:
Việc nhân viên Công ty A qua sửa chữa máy điện thoại làm mất toàn bộ danh bạ trên máy. Khi sửa chữa, cài đặt máy, nhân viên không thông báo tới khách hàng về việc có thể làm mất danh bạ này, việc của bạn có hai trường hợp xảy ra.
Trường hợp 1: Nếu bạn có căn cứ chứng minh (có hợp đồng dịch vụ giữa bạn và Công ty A- trong hợp đồng phải có điều khoản quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi làm mất danh bạ điện thoại, văn bản thông báo của Công ty A, ngoài ra nếu như có bất cứ tài liệu nào của Công ty A thể hiện rằng nếu nhân viên Công ty A làm mất danh bạ điện thoại của khách thì khách có quyền yêu cầu bồi thường và mức bồi thường sẽ căn cứ theo điều khoản hoặc tài liệu được Công ty A cung cấp)
Thì cửa hàng Công ty A đã vi phạm Khoản 1, Khoản 3 Điều 522 (BLDS 2005) nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ: 
“1.Thực hiện công việc đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và các thoả thuận khác
….
3. Bảo quản và phải giao lại cho bên thuê dịch vụ tài liệu và phương tiện được giao sau khi hoàn thành công việc;”
Căn cứ vào khoản 2 Điều 521 (BLDS 2005): “Trong trường hợp bên cung ứng dịch vụ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thì bên thuê dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại” và khoản 6 điều 522 Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ: “Bồi thường thiệt hại cho bên thuê dịch vụ, nếu làm mất mát, hư hỏng tài liệu, phương tiện được giao hoặc tiết lộ bí mật thông tin”
Trong trường hợp này bạn sẽ được bồi thường. Ban có thể lựa chọn các phương thức giải quyết tranh chấp như: tự thương lượng, hòa giải với nhau. Trong trường hợp thương lượng, hòa giải bất thành mới đưa ra Tòa án hoặc trọng tài giải quyết, căn cứ theo quy định tại Điều 30 Luât bảo vệ người tiêu dùng 2010: "Phương thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
1. Tranh chấp phát sinh giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ được giải quyết thông qua:
a) Thương lượng;
b) Hòa giải;
c) Trọng tài;
d) Tòa án.
2. Không được thương lượng, hòa giải trong trường hợp tranh chấp gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của nhiều người tiêu dùng, lợi ích công cộng".
Trường hợp 2:  Không có căn cứ chứng minh:
Bạn và cửa hàng kinh doanh của Công ty A không có bất kì hợp đồng nào hay không có thông báo bằng văn bản của của hàng kinh doanh của Công ty A về việc sẽ đảm bảo các số điện thoại của bạn không bị mất. Nghĩa là trường hợp này bạn chỉ mang điện thoại để sửa chữa thông thường thì bạn không có cơ sở để yêu cầu bồi thường thiệt hại. Vậy trong trường hợp này Cửa hàng kinh doanh của Công ty A không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bạn khi làm mất danh bạ điện thoại.
Luật sư Ngô Thị Lựu
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Ban Bạn đọc

Thứ Hai, 2 tháng 4, 2012

Thủ tục xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân?

(Dân trí) - Xin giấy chứng nhận độc thân thì cần những thủ tục, giấy tờ gì? Có bắt buộc phải có sổ hộ khẩu không? Tôi quê ở Hà Tĩnh, hiện đang đang tác và làm việc ngoài Hà Nội, xin cảm ơn. (Đinh Văn Thưởng, Email: thuong_cntt@yahoo.com).
Ảnh minh họa

Trả lời:
Căn cứ  theo Điều 66 Nghị định 158/2008/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch qui định về thẩm quyền cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người có yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người đó.
Khoản 1 Điều 8 Nghị định 158/2008/NĐ-CP quy định về Xác định thẩm quyền đăng ký hộ tịch như sau:
 
“1. Đối với công dân Việt Nam ở trong nước, thì việc đăng ký hộ tịch được thực hiện tại nơi người đó đăng ký hộ khẩu thường trú; nếu không có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, thì việc đăng ký hộ tịch được thực hiện tại nơi người đó đăng ký tạm trú có thời hạn theo quy định của pháp luật và đăng ký hộ khẩu.”

Như vậy, bạn phải xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân tại Ủy ban Nhân dân xã phường nơi bạn đăng ký hộ khẩu thường trú tại tỉnh Hà Tĩnh.
 
Thủ tục xin cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được quy định tại Điều 67 Nghị định 158/2008/NĐ-CP như sau:
 
“1. Người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định).
 
Trong trường hợp người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ, có chồng, nhưng đã ly hôn hoặc người kia đã chết, thì phải xuất trình trích lục bản án/Quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về việc ly hôn hoặc bản sao giấy chứng tử. Quy định này cũng được áp dụng đối với việc xác nhận tình trạng hôn nhân trong Tờ khai đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 18 của Nghị định này.
 
Sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc viên chức Lãnh sự ký và cấp cho đương sự Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (theo mẫu quy định).

Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn xác minh là 5 ngày.
 
2. Việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo quy định tại Chương này phải được ghi vào Sổ cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để theo dõi.
 
3. Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng, kể từ ngày xác nhận.”
 
Giấy tờ hợp lệ ở đây được hiểu là chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu v.v... 
 
Trường hợp bạn không được gia đình cho mượn sổ hộ khẩu thì bạn có thể đến cơ quan công an nơi quản lý hộ khẩu của bạn xin xác nhận là bạn có hộ khẩu ở đó.
 
Luật sư Vũ Hải Lý
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166

Thứ Tư, 28 tháng 3, 2012

Thủ tục xin cấp “mã vạch” cho sản phẩm

Tư vấn pháp luật:
(Dân trí) - Công ty tôi sản xuất và phân phối bút bi tại Hà Nội. Hiện nay, chúng tôi muốn đưa các sản phẩm bút bi vào bán tại các siêu thị nên cần phải xin mã số mã vạch cho sản phẩm. Mong các luật sư hướng dẫn thủ tục? Chân thành cảm ơn!
(Phan Kim Tuyến, Email: kimtuyen@gmail.com).

Ảnh minh họa

Trả lời
Căn cứ vào Điều 7 Quyết định số15/2006/QĐ-BKHCN ngày 23/8/2006 (“QĐ số 15/2006/QĐ-BKHCN”) thì các tổ chức, doanh nghiệp muốn sử dụng mã số mã vạch (“MSMV”) phải đăng ký sử dụng MSMV tại các cơ quan được Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng (“TCĐLCL”) chỉ định tiếp nhận hồ sơ đăng ký sử dụng MSMV.
I. Chuẩn bị hồ sơ.
Căn cứ  vào khỏan 2 Điều 7 QĐ số 15/2006/QĐ-BKHCN hồ sơ chuẩn bị bao gồm:
a) Bản đăng ký sử dụng MSMV theo mẫu quy định tại Phụ lục I của Quy định này;
b) Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, thương mại hoặc bản sao Quyết định thành lập đối với các tổ chức khác;
c) Bảng Đăng ký danh mục sản phẩm sử dụng mã GTIN theo mẫu quy định tại Phụ lục II của Quy định này;
d) Phiếu đăng ký thông tin cho cơ sở dữ liệu của GS1 Việt Nam (Mạng GEPIR) theo mẫu quy định tại Phụ lục III của Quy định này
II. Nộp hồ sơ tại Cục TCĐLCL
Bạn nộp bộ hồ sơ nêu trên tại tổ chức tiếp nhận hồ sơ là Cục TCĐLCL tại Hà Nội. Cục TCĐLCL tiếp nhận và xử lý sơ bộ hồ sơ đăng ký sử dụng MSMV.
Trong thời hạn không quá 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, tổ chức tiếp nhận hồ sơ phải chuyển hồ sơ đến Tổng cục TCĐLCL (Điều 8QĐ số 15/2006/QĐ-BKHCN)
III. Thẩm định hồ sơ và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng MSMV
Căn cứ Điều 9 QĐ số 15/2006/QĐ-BKHCN hồ sơ được thẩm định như sau:
1. Trong thời hạn không quá 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ, Tổng cục TCĐLCL tiến hành thẩm định hồ sơ đăng ký sử dụng MSMV:
  a)  Nếu hồ sơ hợp lệ, Tổng cục TCĐLCL cấp mã số; vào sổ đăng ký, lưu vào ngân hàng mã số quốc gia và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng MSMV.
  b) Nếu hồ sơ chưa hợp lệ, Tổng cục TCĐLCL đề nghị tổ chức/doanh nghiệp hoàn thiện.
 2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng MSMV được gửi cho tổ chức/doanh nghiệp sử dụng MSMV thông qua các tổ chức tiếp nhận hồ sơ trong thời hạn không quá 10 ngày, kể từ ngày được Tổng cục TCĐLCL cấp. Mẫu Giấy chứng nhận quyền sử dụng MSMV được quy định tại Phụ lục IV của Quy định này.
 3. Khi tổ chức/doanh nghiệp sử dụng MSMV có sự thay đổi về tư cách pháp nhân, về tên gọi hoặc địa chỉ giao dịch hoặc Giấy chứng nhận bị mất hoặc hỏng, tổ chức/doanh nghiệp sử dụng MSMV phải thông báo bằng văn bản cho Tổng cục TCĐLCL để được đổi hoặc cấp lại Giấy chứng nhận mới. Tổ chức/doanh nghiệp sử dụng MSMV chịu trách nhiệm thanh toán các chi phí đổi và cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng MSMV
Như vậy, nếu hồ sơ hợp lệ thì trong vòng không quá 5 ngày bạn đã có dãy số MSMV để công ty bạn sử dụng in MSMV và có thể đưa hàng hóa vào các siêu thị để phân phối.
Luật sư Đinh Vũ Hòa
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166

Thứ Tư, 14 tháng 3, 2012

Không bật tín hiệu xi nhan, bị xử phạt bao nhiêu tiền?

Không bật tín hiệu xi nhan, bị xử phạt bao nhiêu tiền?
(Dân trí) - Tôi điều khiển xe máy chuyển làn đường nhưng không mở tín hiệu xi nhan. Xin hỏi trường hợp này bị xử phạt bao nhiêu? Xin cảm ơn quý báo! (Nguyễn Trung, Email: trung.nvb@gmail.com)
 >>  Xử phạt vi phạm hành chính khi không có giấy phép lái xe?
 >>  Xử phạt đi xe môtô không có gương chiếu hậu, không có bảo hiểm xe?
CSGT đang làm nhiệm vụ tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh (Ảnh: Vũ Văn Tiến)
Trả lời:
Tại điểm a khoản 2 Điều 9 Nghị định 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, nêu rõ: “Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây: Chuyển làn đường không đúng nơi được phép hoặc không có tín hiệu báo trước...
Như vậy, bạn điều khiển xe máy chuyển làn đường không có đèn tín hiệu báo trước thì sẽ bị xử phạt theo quy định nêu trên.
Luật sư Ngô Thị Lựu
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166

Thứ Ba, 13 tháng 3, 2012

Luật sư Vũ Thị Hiên

Ly hôn có bị mất quyền làm cha không?
(Dân trí) - Tôi ly hôn được hơn 1 tháng. Khi đó vợ tôi mang bầu được 8 tháng, nay vợ tôi sinh bé, cô ấy muốn khai sinh cho cháu bé không có tên tôi. Tôi có bị mất quyền làm cha không? (Trần Hoàng Việt, Email: Vietth@gmail.com).
Tại Khoản 2 Điều 21 Nghị định số 70/2001/ND – CP ngày 03/10/2001 quy định như sau: “Con sinh ra trong vòng 300 ngày, kể từ ngày người chồng chết hoặc kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án xử cho vợ chồng ly hôn có hiệu lực pháp luật, thì được xác định là con chung của hai người”.
Như vậy đối chiếu quy định nêu trên, đứa trẻ sinh ra sau khi ly hôn đối với trường hợp của bạn được xác định là con chung vợ chồng. Việc vợ bạn không cho bạn đứng tên khai sinh là cha của đứa trẻ là không đúng quy định của pháp luật. Trường hợp này bạn nên trao đổi trực tiếp phân tích cho mẹ đứa trẻ hiểu, nếu sau khi mẹ của đứa trẻ hiểu và hợp tác thì hai bạn liên hệ tới Ủy ban nơi mẹ đứa trẻ có hộ khẩu để làm thủ tục đăng ký khai sinh cho bé.   Trường hợp, nếu mẹ đứa trẻ không muốn để bạn đứng tên trên giấy khai sinh thì bạn có quyền nộp đơn khởi kiện tới Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu nhận cha cho con. Khi bản án của Tòa có hiệu lực pháp luật thì bạn có quyền yêu cầu mẹ đứa trẻ đi làm thủ tục khai sinh cho bé và bạn sẽ đứng tên cha đứa trẻ trên giấy khai sinh.   Như vậy, việc ly hôn không làm chấm dứt hay làm bạn mất quyền làm cha.  
Luật sư Vũ Thị Hiên
Địa chỉ: Số 335 Kim Mã - Ba Đình - Hà Nội
Tư vấn tổng đài 04 -1088 phím số 4 -4 hoặc phím 4-5
Điện thoại: 04 3 747 8888 – Fax: 04 3 747 3966
Hot-line: 093 366 8166